Làng quê xứ Quảng. ảnh Hữu Khiêm
Thế núi
Nói đến địa danh liên quan đến ngựa tại Đà Nẵng, không thể không nhắc đến đồi Yên Ngựa, ngọn đồi nổi tiếng gắn với trận đánh Núi Thành lịch sử. Sách xưa viết là Mã Yên sơn (馬鞍; mã: ngựa, yên: yên ngựa).
Đại Nam nhất thống chí, quyển 5, ghi nhận Mã Yên sơn: “Hình núi có chỗ phục xuống có chỗ khởi lên, chính giữa qua một cái eo thấp xuống, 2 đầu nổi lên núi đất, đồ sộ tương đối, hình như cái yên ngựa nên gọi tên ấy”. Ngoài ra, Đà Nẵng còn có bãi Yên Ngựa, một bãi biển thơ mộng nép mình bên bán đảo Sơn Trà.
Bên cạnh núi Yên Ngựa, xứ Quảng xưa còn có núi Cổ Ngựa. Đại Nam nhất thống chí ghi là Mã Cảnh sơn (馬頸; cảnh: cổ). Núi này tuy không được viết thành mục riêng nhưng được các đại thần Quốc sử quán triều Nguyễn nhắc đến khi miêu tả vị trí của núi Trà Sơn: “Phía Bắc [núi Trà Sơn] là núi Cổ Ngựa, đối nhau với hòn Ngự Hải đứng sững ở cửa biển”.
Có lẽ cũng như cách gọi tên núi Yên Ngựa, tên núi Cổ Ngựa là do hình dáng núi như cổ một con ngựa đang cúi xuống. Bởi, gọi tên theo hình dáng của đối tượng địa lý trong tương quan với hình dáng một con vật nào đó là một trong những phương thức định danh khá phổ biến, nhất là với các địa danh tự nhiên.
Xứ Quảng xưa còn nhiều địa danh khác có yếu tố “mã 馬” trong tên gọi. Ngoài dãy Bạch Mã nổi tiếng, “mã” còn xuất hiện trong một số tên làng xã ở Quảng Nam xưa. Minh Mạng tấu nghị ghi nhận một số tên gọi như vậy.
Năm 1824, bộ Hộ dâng lên vua Minh Mạng bản tấu nghị về nhiều vấn đề trong đại của quốc gia, trong đó có việc thay đổi tên gọi có âm Nôm hoặc mặt chữ không nhã của nhiều làng xã trong cả nước thành các tên đẹp để “lưu danh muôn đời”. Trong đợt cải danh trên quy mô toàn quốc lần này, dinh Quảng Nam có 99 địa danh được thay đổi tên gọi.
Trong 99 địa danh được đổi tên ở dinh Quảng Nam, tại thuộc Hoa Châu có thôn Thượng châu Bà Mã (婆馬 洲上村) đổi thành thôn Mã Châu Thượng (馬洲上村), thôn Tây châu Bà Mã (婆馬 洲西村) đổi thành thôn Mã Châu Tây (馬洲西村), thôn Đông Viên châu Bà Mã (婆 馬洲東員村) đổi thành thôn Mã Châu Đông (馬洲東村) và thôn Đông Hoa châu Bà Mã (婆馬洲東花村) đổi thành thôn Mã Châu Đông Hoa (馬 洲東花村).
Không rõ Mã trong châu Bà Mã có phải là tên của một người phụ nữ (bà tên Mã) rồi trở thành tên đất như cách định danh quen thuộc thời xưa hay có nguồn gốc với từ bà ngựa, một danh từ cổ để chỉ ngựa nói chung, như trong câu “Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn” của Nguyễn Trãi (Quốc âm thi tập, bài 1); hoặc Bà Mã có nguồn gốc từ sự tích Bà Chúa Ngựa vốn gắn liền với tín ngưỡng dân gian khá phổ biến ở miền Trung. Nhưng rõ ràng, chữ Mã này cũng chính là chữ mã với nghĩa là “con ngựa”. Khi bộ Hộ “phụng nghị cải vi” (kính đề nghị đổi thành) Mã Châu vẫn giữ nguyên chữ “mã” - ngựa này.
Lần theo tên gọi
Bên cạnh “mã”, trong tiếng Việt còn có một từ gốc Hán cũng chỉ ngựa, tuy không phổ biến bằng. Đó chính là “câu” trong thành ngữ bóng câu qua cửa mà nguyên gốc của nó là bạch câu quá khích. Hán Việt tự điển của tác giả Thiều Chửu giảng “câu”: “Ngựa hai tuổi gọi là câu. Phàm ngựa còn non còn khỏe đều gọi là câu cả”. “Bạch câu” chính là con ngựa câu lông trắng.
Xứ Quảng xưa có một số địa danh có yếu tố “câu” - ngựa này mà tiêu biểu nhất là địa danh cảng Bạch Câu. Sách Đại Nam nhất thống chí, tại mục Khê đàm (khe đầm) có ghi nhận Bạch Câu cảng ( 白駒港) là một tiểu mục riêng và mô tả “ở phía nam huyện Hà Đông, từ trong Sa Động chảy ra biển, giáp giới tỉnh Quảng Ngãi”. Tra trong Đại bạ dinh Quảng Nam lập dưới thời Gia Long, thấy có 2 xã xuất hiện yếu tố “bạch câu” là Bình An Bạch Câu xã 平安 白駒社 (tổng Đức Hòa Trung) và Bạch Câu Phúc An xã 白駒 福安社 (thuộc Liêm Hộ) đều thuộc huyện Hà Đông. Có thể, tên cảng Bạch Câu là do tên xã Bạch Câu mà ra.
Nói đến “câu” là phải nói đến hai địa danh nổi bật của xứ Quảng xưa là Câu Đê (Cu Đê) và Câu Nhí. Theo ghi nhận của Đại Nam nhất thống chí cũng như Đồng Khánh địa dư chí, địa danh Câu Đê viết bằng hai chữ Hán là 俱 低. Chữ câu 俱 mượn để ghi âm và nghĩa cũng không liên quan gì đến ngựa. Vậy còn Câu Nhí? Không phải ngẫu nhiên mà cả Đại Nam nhất thống chí và Đồng Khánh địa dư chí đều thống nhất ghi tên Câu Nhi bằng hai chữ Hán 駒䮘. Chữ Nhi 䮘 này không có trong các bộ từ điển Hán Việt thông thường.
Vậy thì nếu chỉ mượn chữ Hán đồng âm để ghi tên địa danh, việc gì các sử gia triều Nguyễn phải mượn những chữ khó như Nhi 䮘 mà không dùng những chữ Nhi phổ biến hơn như 而 (nghĩa là “mà, rồi, và”), 兒 (nghĩa là “con, trẻ con”).
Thật ra, chữ Nhi 䮘 thuộc bộ “mã” (liên quan đến ngựa), có nghĩa là “ngựa nhỏ, ngựa con”. Rõ ràng, cả Câu và Nhi trong Câu Nhi đều liên quan đến ngựa, cụ thể là ngựa con/ non. Vậy thì việc dùng hai chữ 駒䮘 hẳn rằng không thể chỉ là mượn chữ Hán đồng âm để ghi âm cho tên gọi địa danh. Còn nếu cố tình mượn hai chữ 駒 và 䮘 (đồng nghĩa, cùng trường nghĩa chỉ “ngựa”) để ghi âm cho hai tiếng Câu Nhi thuần Nôm thì quả là các sử gia triều Nguyễn cũng rất biết… chơi chữ. Cùng với Bạch Câu, Câu Nhi, xứ Quảng xưa còn nhiều địa danh có yếu tố câu 駒 được ghi lại trong sách xưa. Chẳng hạn, Đại Nam nhất thống chí, quyển 5 viết về tỉnh Quảng Nam, phần Tân độ (bến đò) ghi nhận bến đò Lạc Câu (Lạc Câu độ 駱駒渡) ở xã Lạc Câu (駱駒社), “đối ngạn giáp xã Hưng Thạnh”.
Cũng sách này, phần Kiều lương (cầu cống) ghi nhận cầu Lang Câu (Lang Câu kiều 廊駒橋) “ở hai xã Thanh Châu và Phước Trạch, dài 62 xích 6 thốn”…
Hẳn nhiên, nếu lần theo các tên gọi xưa ở xứ Quảng, ta còn có thể tìm được những địa danh khác liên quan đến ngựa. Điều này cho thấy ngựa không hề xa lạ, luôn để lại dấu ấn rõ nét trong đời sống văn hóa tinh thần của người Quảng xưa.
PHẠM TUẤN VŨ