Ngày 13/4/1992, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công ký sắc lệnh công bố Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992. Ảnh: TTXVN
Bản lĩnh trong những thời điểm quyết định
Sinh trưởng trong gia đình giàu truyền thống yêu nước tại làng Khương Mỹ (nay thuộc xã Tam Xuân, thành phố Đà Nẵng), đồng chí Võ Chí Công sớm giác ngộ cách mạng và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương từ tháng 5/1935. Suốt hơn 80 năm hoạt động, đồng chí luôn đặt lợi ích của cách mạng và nhân dân lên trên hết.
Sau Hiệp định Geneva năm 1954, trước sự đàn áp khốc liệt của chính quyền Ngô Đình Diệm, đồng chí Võ Chí Công sớm nhận diện từ thực tiễn Khu V rằng nếu chỉ đấu tranh chính trị đơn thuần, lực lượng ta sẽ tổn thất nặng nề. Cuối năm 1957, đồng chí ra Hà Nội báo cáo Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiến nghị kết hợp đấu tranh chính trị với vũ trang: “Nếu không có đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị thì tình hình ở đồng bằng gặp nhiều khó khăn hơn”. Những đề xuất này là căn cứ quan trọng để Trung ương hoạch định đường lối cách mạng miền Nam, tiến tới ban hành Nghị quyết 15 năm 1959.
Bản lĩnh Võ Chí Công tiếp tục tỏa sáng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trên cương vị Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu V, đồng chí bám sát địa bàn, cùng quân dân giữ đất, giữ dân. Năm 1974, đồng chí cùng tập thể lãnh đạo Khu V xây dựng kế hoạch tiến công Thượng Đức - “cánh cửa thép” bảo vệ Đà Nẵng. Chiến thắng này đã kiểm nghiệm chính xác khả năng phản ứng của đối phương, cung cấp căn cứ thực tiễn quý giá cho quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Ở đồng chí Võ Chí Công, sự quyết đoán không đến từ ý chí chủ quan mà bắt nguồn từ việc bám sát chiến trường, nắm chắc tương quan lực lượng và tinh thần dám chịu trách nhiệm. Đó là bản lĩnh nhận diện thời cơ trong nghịch cảnh, biến các khả năng phát triển của cách mạng thành thắng lợi thực tế.
Phá sức ì, mở đường cho đổi mới
Sau ngày đất nước thống nhất, đồng chí Võ Chí Công được giao phụ trách khối nông, lâm, ngư nghiệp. Trước thực trạng sản xuất trì trệ, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, đồng chí luôn trăn trở: Vì sao con người có thể tạo nên động lực phi thường trong chiến đấu nhưng lại chưa phát huy được tinh thần ấy trong lao động sản xuất?
Đồng chí đã trực tiếp xuống các hợp tác xã, gặp gỡ xã viên, cùng nhân dân ra đồng để quan sát và đối thoại. Từ thực tiễn sinh động, đồng chí nhận định: “Tôi thấy phải khoán ruộng đất cho xã viên mới tạo được động lực và xóa được tiêu cực”. Muốn phát triển phải tôn trọng lợi ích chính đáng của người lao động; muốn giải phóng sức sản xuất phải kiên quyết tháo bỏ cơ chế triệt tiêu động lực.
Đồng chí không vội biến nhận thức cá nhân thành mệnh lệnh hành chính. Các mô hình khoán được khảo sát, thí điểm và thảo luận dân chủ trên diện rộng. Từ kết quả thực tế tại Vĩnh Phú, Hải Phòng và nhiều địa phương, đồng chí cùng đồng chí Lê Thanh Nghị được giao xây dựng dự thảo Chỉ thị số 100-CT/TW; trong đó, đồng chí Võ Chí Công trực tiếp dự thảo và đồng chí Lê Thanh Nghị đóng góp ý kiến.
Chỉ thị số 100-CT/TW ban hành ngày 13/1/1981 là thành quả của trí tuệ tập thể, mang đậm dấu ấn người cán bộ biết lắng nghe dân, kiểm nghiệm cái mới bằng thực tiễn và quyết liệt bảo vệ lợi ích nhân dân. “Khoán 100” đã tạo động lực mạnh mẽ, phá tan sức ì của cơ chế cũ, mở đường đổi mới ngành nông nghiệp.
Từ bước đột phá này, đồng chí tiếp tục đảm nhiệm Trưởng Tiểu ban nghiên cứu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, góp phần hình thành Nghị quyết số 10-NQ/TW (tháng 4/1988), tạo bước ngoặt cho nông nghiệp Việt Nam. Trên lĩnh vực phân phối, lưu thông, đồng chí phê phán tư duy giáo điều, sức ì và tâm lý e ngại đổi mới; đề xuất vận dụng quy luật giá trị, xóa bỏ tình trạng ngăn sông cấm chợ. Đặc biệt, đồng chí gợi ý dùng khái niệm “đổi mới” làm chủ đề vì tính gần gũi, dễ hiểu, huy động được sự tham gia của toàn dân vào quá trình hình thành đường lối đổi mới toàn diện tại Đại hội VI.
Giá trị tư duy của đồng chí Võ Chí Công không chỉ nằm ở chính sách khoán, mà còn ở phương pháp phát hiện điểm nghẽn, giải phóng nội lực, đưa hơi thở cuộc sống vào nghị quyết và đưa nghị quyết trở lại phục vụ nhân dân. Đổi mới, với đồng chí, là thay đổi những cơ chế lỗi thời để thực hiện tốt hơn mục tiêu vì con người.
Từ tư duy đổi mới đến thể chế phát triển
Được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước năm 1987, đồng chí Võ Chí Công tiếp tục thể hiện bản lĩnh tiên phong trên lĩnh vực lập hiến và lập pháp. Trên cương vị Chủ tịch Ủy ban sửa đổi Hiến pháp, đồng chí cùng tập thể lãnh đạo Đảng, Nhà nước chỉ đạo sửa đổi những nội dung lỗi thời, xây dựng Hiến pháp năm 1992 - nền tảng pháp lý quan trọng của thời kỳ đổi mới. Hội đồng Nhà nước cũng xem xét, ban hành nhiều đạo luật mở đường cho kinh tế và hội nhập như Luật Đất đai, Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Từ chiến trường đến kinh tế, từ chính sách đến pháp luật, hành trình của đồng chí Võ Chí Công khẳng định: chủ trương đổi mới chỉ thực sự đi vào đời sống khi được thể chế hóa và thực thi nghiêm túc. Người mở đường phải thiết lập được cơ chế để cái mới vận hành, phát huy quyền làm chủ của nhân dân và khơi thông mọi nguồn lực phát triển.
Sau 40 năm đổi mới, đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đại hội XIV của Đảng xác định đột phá mạnh mẽ về thể chế nhằm “khơi thông, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực”; đồng thời “khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”.
Những yêu cầu đó làm sáng rõ giá trị thời sự từ cuộc đời đồng chí Võ Chí Công. Cán bộ phải kiên quyết chống lại tư duy bảo thủ, trì trệ, đồng thời tránh việc nhân danh đổi mới để hành động tùy tiện. Dám nghĩ phải có cơ sở khoa học; dám làm phải vì lợi ích chung; dám chịu trách nhiệm phải gắn với kỷ luật và hiệu quả phục vụ nhân dân. Thực tiễn là điểm xuất phát, nhân dân là trung tâm, kết quả phát triển là thước đo.
TRẦN NGỌC NHIỀU