Đội bả trạo của làng biển Tam Thanh (phường Quảng Phú) trong lễ hội cầu ngư. Ảnh: PHƯƠNG THẢO
Ở miền biển xứ Quảng có một nền văn hóa truyền thống đặc sắc cả về văn hóa vật thể và phi vật thể. Di sản văn hóa gắn liền với phương thức canh tác ngư nghiệp. Chính phương thức lao động này là yếu tố chi phối những di sản văn hóa phi vật thể về nội dung, hình thức biểu hiện.
Di sản gắn liền đời sống lao động
Cư dân miền biển sinh sống bằng ngư nghiệp là chủ yếu nên những đặc điểm về phong tục tập quán, văn học dân gian, hay lễ hội truyền thống… đều mang nét đặc trưng của cư dân vùng biển, tạo nên sự khác biệt với các địa phương khác. Từ lễ hội cầu ngư, cúng “Ông” cho đến ca dao, tục ngữ, chèo bả trạo... đều mang đậm yếu tố văn hóa biển.
Tục thờ cúng cá Ông trong lễ hội cầu ngư, việc thờ phụng không đơn thuần là giữa sự cầu và may hoặc mang tính chất biểu hiện ứng xử giữa các quan hệ liên thức người - thần - biển, mà còn là sự khởi phát cho tiến trình bước dần ra khỏi khuôn mẫu văn hóa Đông Á, để hội nhập vào không gian văn hóa Đông Nam Á.
Không dừng lại ở đó, tính chất văn hóa phi vật thể trong lễ hội của cư dân miền biển được thể hiện một cách bao hàm từ tiếng nói, chữ viết, đến ngữ văn truyền miệng… Chẳng hạn, ngôn ngữ được sử dụng trong hát bả trạo, bài chòi, văn cúng tế... có sắc thái, giai điệu, tiết nhịp chứa cảm xúc thẩm mỹ khác nhau như nói lối, hát thán, hát xuân nữ, hò chèo thuyền, hò khoan, kể… đã được kế thừa vận dụng hết sức phong phú và độc đáo.
Ngoài ra, ngôn ngữ văn chương của nghệ thuật tuồng được vận dụng và sử dụng trong hát bả trạo. Cũng từ đó, cái chất phi vật thể trong ngôn ngữ được vận dụng biến thể cũng như kết hợp với làn điệu, động tác, âm nhạc, trở thành nghệ thuật độc đáo của người làng biển.
Qua điều tra tổng thể văn hóa phi vật thể miền biển xứ Quảng, có thể nhận thấy nơi đây có kho tàng văn hóa phi vật thể rất phong phú. Ngư dân ven biển và trên biển xứ Quảng, tính từ bán đảo Sơn Trà qua Hội An vào đến Dung Quất/Vũng Quýt từ lâu đã biết dựa vào thiên nhiên để sinh cơ, lập nghiệp theo mùa.
Những nghề như làm đồ gốm, ghe bầu, đồ mỹ nghệ, làm mắm (chế biến các loại thực phẩm từ sản vật biển), đan, dệt, buôn bán, bốc vác, môi giới… đã sớm hình thành ở cộng đồng ngư dân xứ Quảng.
Các nghề ở làng chài xứ Quảng như xăm, giã ruốc, giã cào, mành chốt, mành mở, lưới quét, lưới cản, lờ mực, câu ống, câu giàn… cũng sớm phát triển.
Đặc biệt, từ xưa với phương tiện ghe bầu, ngư dân xứ Quảng đã ra Bắc vào Nam và lên miền ngược, về miền xuôi trao đổi hàng hóa. Ngư dân xứ Quảng đã góp phần vào việc hình thành nên các hải trình buôn bán hương liệu, gốm sứ, tơ lụa của các nước Đông Á và Đông Nam Á; tạo nên sự phồn thịnh của đô thị - thương cảng Hội An, bến cảng Trung Phường, Trà Nhiêu, An Hòa, Bàn Thạch, Cù Lao Chàm…
Sự đa dạng về ngành nghề của cộng đồng ngư dân xứ Quảng phần nào cho thấy hệ sinh thái vùng biển đã chi phối mạnh đến đời sống, phương thức mưu sinh của ngư dân. Mặt khác, sự đa dạng này là nhân tố nảy sinh những đặc điểm xã hội với tính chất thoáng mở, năng động rất đặc trưng và kết hợp nhiều giá trị văn hóa tiêu biểu của các vùng miền khác.
Tâm thức biển
Biển và những sự kiện liên quan đến cuộc mưu sinh của con người trên biển luôn hiện hữu trong tâm thức ngư dân xứ Quảng suốt cả đời người. Giá trị văn hóa tinh thần đặc trưng của ngư dân xứ Quảng được lắng đọng trong nhiều tín ngưỡng dân gian đi kèm với các lễ hội đặc trưng. Cộng đồng ngư dân xứ Quảng đã nuôi dưỡng và tổ chức nhiều lễ hội gắn chặt với tín ngưỡng dân gian.
Có thể kể đến Lễ hội rước Cộ chợ Được, diễn ra vào ngày 11 tháng Giêng hằng năm với các nội dung như cầu an, múa lân, đua ghe, rước kiệu Bà đi quanh làng chài.
Hay như Lễ vía Bà Thiên Hậu, diễn ra vào ngày 23 tháng 3 âm lịch hằng năm, do người Hoa ở Hội An tổ chức; trong đó phần lễ được tổ chức theo nghi lễ truyền thống của người Hoa, sau đó là phần hội với các hoạt động vui chơi, giải trí, múa lân, xin xăm… Những lễ hội này thường được người dân trang hoàng đèn cờ rực rỡ, con cháu và du khách thập phương tham dự đông vui.
Tuy nhiên, nét đặc trưng cho tín ngưỡng dân gian và văn hóa lễ hội của ngư dân vùng biển xứ Quảng là tín ngưỡng thờ cá “Ông” (cá voi). Thờ cá “Ông” là tín ngưỡng dân gian đã được nghi thức hóa, cung đình hóa từ thời vua Gia Long. Ở mỗi làng chài ven biển xứ Quảng, cá “Ông” được tôn xưng với các tước hiệu như Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Tôn Thần, Đại Càn Nam Hải Đại Tướng Quân, Đông Hải Ngọc Lân Tôn Thần, hay các danh xưng gần gũi khác như ông Cậu, ông Khơi, ông Lộng, ông Chuông…
Từ niềm tín kính như vậy, hằng năm lễ tế cá “Ông” là một trong những nghi lễ quan trọng nhất, đó cũng là ngày hội của cư dân vạn chài. Đây là tín ngưỡng được đông đảo ngư dân vùng biển xứ Quảng tham gia nhất. Cá “Ông” là vị thần chung của ngư dân, vì thế các vạn chài đã có sự kết nghĩa giao lưu. Thờ cá “Ông” ở cộng đồng ngư dân biển không chỉ đơn thuần là thực hành các nghi lễ tín ngưỡng, thể hiện tâm thức tôn giáo mà còn biểu hiện thế ứng xử, tính thích nghi của ngư dân với hệ sinh thái biển và với cộng đồng trong suốt quá trình mưu sinh. Thực hành lễ hội thờ cá “Ông” đã hàm chứa đầy đủ, sâu sắc các giá trị văn hóa tinh thần và xã hội với ý nghĩa nhân văn của cộng đồng ngư dân.
* * *
Hệ sinh thái vùng biển xứ Quảng từ lâu đã chi phối và ít nhiều quy định đời sống xã hội, bản sắc văn hóa của ngư dân. Ngày nay, những đặc điểm xã hội và văn hóa này đang chịu tác động và biến đổi bởi rất nhiều nhân tố chủ quan và khách quan của con người trong và ngoài cộng đồng ngư dân.
Các đặc điểm xã hội và văn hóa mới hình thành ắt sẽ có điểm tích cực và chưa tích cực cho sự phát triển bền vững của cộng đồng ngư dân ven biển. Và những nét mới đó đang cần được nhận diện sáng rõ.
Văn hóa biển từ cách nhìn đương đại, thì chính trong quá trình mở mang bờ cõi, người Việt đã từng bước tiến ra biển theo nhiều cách. Một mặt tiến thẳng ra biển đảo khai thác các nguồn tài nguyên giàu có của biển để sinh tồn, mặt khác người Việt đã kéo dài nếp sống nông nghiệp ở đồng bằng ra biển đảo. Đó chính là tâm thức biển cần được nhận diện.
TÔN THẤT HƯỚNG