Những sản phẩm từ tre thể hiện sự khéo léo và kinh nghiệm nhiều năm của nghệ nhân Võ Tấn Mười. Ảnh: KHA MIÊN
Trong câu chuyện của những người đã sống gần trọn đời ở vùng đất cuối sông đầu biển, dáng hình làng vẫn vẹn nguyên thương nhớ.
Đời người, đời làng...
Ông Võ Tấn Mười nay 84 tuổi. Ngần ấy năm sống ở Cẩm Thanh cũng là ngần ấy năm ông nhìn rừng dừa đổi khác. Nhưng câu chuyện về những cây dừa đầu tiên còn xa hơn tuổi của ông.
Ông nghe mẹ kể, trước năm 1930, những người dân Cẩm Thanh theo ghe buôn gạo vào Nam Bộ đã mang giống dừa nước về trồng. Bà cũng là một trong những người góp sức gây dựng những khoảnh dừa thuở ban đầu. Tên gọi Bảy Mẫu bắt đầu từ diện tích ban đầu ấy, rồi tiếp tục được nhân rộng. Ông Mười nhớ có thời điểm rừng dừa phát triển lên gần 200 mẫu.
“Cẩm Thanh ngày trước là vùng đất của những cồn bãi và rạch nước chằng chịt. Đất theo phù sa bồi dần, người dân trồng thêm ngô, khoai, mở rộng nơi ở. Ở những vùng thấp, ngày ngày chịu con nước lên xuống, dừa nước bén rễ rồi thành một phần sinh kế của làng”, ông Mười hồi tưởng.
Nằm ở vùng cửa sông ven biển, được bao bọc bởi các cồn bãi tự nhiên, Cẩm Thanh đời sống từ lâu gắn chặt với nước. Rừng dừa vừa giữ đất, chắn sóng, vừa là nơi trú ngụ của nhiều loài thủy sản.
Lá được cắt bán, dùng lợp mái, làm vách, phên; còn người dân khi vào rừng dừa bắt thủy sản, lúc ra cửa sông hoặc theo ghe ra biển. Ruộng lúa không nhiều nên người Cẩm Thanh quen xoay xở nhiều nghề.
“Nguồn lợi ấy gần như thuận theo tự nhiên, không phải đầu tư phân bón hay thức ăn. Con nước lên mang theo thủy sản, nước xuống người dân lại theo rạch mà bắt”, ông Mười kể.
Từ những vật liệu sẵn có quanh làng, nghề làm nhà tre, dừa cũng trở thành sinh kế quen thuộc. Ông Mười thuộc lớp thợ gắn bó lâu năm với nghề thủ công truyền thống được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2024.
Chừng 15 tuổi, ông đã theo những người lớn tuổi học lợp nhà, làm vách, đan vật dụng bằng tre, dừa. Hơn nửa thế kỷ làm nghề, những kỹ năng ban đầu dần thành kế sinh nhai của gia đình và cũng là vốn nghề ông truyền lại cho nhiều người. Về sau, ông tiếp tục mày mò, tận dụng từ gốc đến thân tre để làm bàn ghế, đồ trang trí và nhiều sản phẩm thủ công độc đáo khác.
Rừng dừa không những “nuôi dưỡng” người Cẩm Thanh mà còn che chở họ qua những năm tháng sinh tử. Thời còn là du kích xã Cẩm Thanh, rồi bộ đội Mặt trận 4 Quảng Đà, ông Mười có lúc phải ngâm mình dưới nước, ép sát vào gốc dừa, lấy bùn che người để tránh những đợt càn quét.
Chiến tranh kết thúc, ông lại tiếp tục với rừng dừa mà thế hệ mẹ mình từng góp sức gây dựng. Năm 1978, ông vận động hàng chục hộ trồng thêm dừa trên những vùng đất thấp, vừa chống sóng, giữ đất, vừa tạo sinh kế.
Trồng dừa giữa vùng ngập triều phải kiên nhẫn theo từng con nước. Để cây non không bị sóng đánh bật, người dân đóng cọc tre, làm rào giữ đất. Nước lên thì đi thuyền vào, nước rút mới lội xuống trồng và dặm lại những cây bị hư. Có nơi sóng mạnh, cây vừa bén đất đã bị đánh bật, phải làm lại từ đầu. Cứ thế, trồng rồi dặm, dặm rồi trồng, đến khi những cây non dần khép tán thành rừng.
Giữ nhịp nghề xưa
Cẩm Thanh trong câu chuyện của ông Mười là ký ức của một đời người; còn với Võ Tấn Tân, con trai ông, đó lại là cả một tuổi thơ. Anh nhớ những con đường đất hẹp, những mùa mưa bùn lầy, phía ngoài là sông, rừng dừa và những lũy tre ôm lấy xóm làng.
Tre, dừa hiện diện từ mái nhà, vật dụng đến công việc của cha, rồi dần trở thành những chất liệu anh muốn gắn bó. Từ vốn nghề được truyền lại, Tân tiếp tục tìm hiểu đặc tính của tre, thử nhiều cách xử lý và tạo hình để phát triển các sản phẩm phù hợp hơn với đời sống hiện đại.
Anh đồng thời xây dựng Taboo Bamboo Workshop, nơi du khách có thể trực tiếp chạm vào vật liệu, thử làm đồ thủ công và tìm hiểu văn hóa bản địa. Theo anh, đó cũng là cách thế hệ mình tiếp tục kể câu chuyện về quê hương. “Khi hiểu được công sức, kỹ năng và lớp văn hóa nằm sau mỗi sản phẩm, du khách sẽ nhìn nghề truyền thống bằng một sự trân trọng khác”, anh Tân suy tư.
Ngoài những cách làm mới, nhịp nghề cũ ở Cẩm Thanh vẫn được giữ bởi những đôi tay đã quen việc qua nhiều năm. Trên các con đường nhỏ trong làng, vẫn có thể bắt gặp những bó lá vừa đốn đặt ven đường, những tấm dừa chằm xong đem hong nắng.
Phần lớn những người còn bám nghề nay đều đã lớn tuổi. Vợ chồng ông Ngô Thuận và bà Huỳnh Thị Kỳ, cùng 72 tuổi, đã làm nghề gần ba mươi năm. Những ngày thuận việc, hai người chằm được khoảng 200 tấm lá.
“Hồi xưa, tre, dừa là kế sinh nhai của cả nhà chú. nhà chú sống nhờ nghề tre dừa hết. Từ những tấm lá chằm mỗi ngày, ba người con chú lần lượt lớn lên”, ông bồi hồi kể.
Giữa lớp thợ ngày một lớn tuổi, anh Phạm Minh Vương là một gương mặt trẻ hiếm hoi. “Ở đây thanh niên theo nghề còn mỗi mình tôi”, anh hóm hỉnh.
Sinh năm 1990 trong gia đình làm nhà tre, nhà lá bằng dừa nước, anh theo cha học nghề từ nhỏ. Ban đầu chỉ phụ những việc lặt vặt, rồi dần biết chọn tre, xử lý lá, chằm từng tấm. Đến nay, anh đã gắn bó với nghề khoảng 15 năm.
“Trước đây ba làm, rồi mình cứ thế mà theo. Càng làm lâu, tôi càng yêu và trân quý nghề của mình hơn”, anh Vương tâm sự. Anh hiểu vì sao người trẻ không còn mặn mà như trước. Nghề nặng nhọc, thu nhập khó cạnh tranh với những công việc từ du lịch. Nhưng anh vẫn kiên trì bám nghề, vừa vì tình yêu dành cho công việc đã theo mình từ nhỏ, vừa mong kỹ năng cha ông truyền lại không đứt quãng ở thế hệ mình.
Độc đáo nghề câu kiều
Từ rừng dừa, cửa sông đến vùng biển gần bờ, người Cẩm Thanh từ lâu đã xoay xở nhiều cách mưu sinh theo mùa, theo nước. “Làm một nghề chính thì không sống nổi”, ông Võ Tấn Mười đúc kết. Trong bức tranh đan xen của nhiều sinh kế ấy, câu kiều ở thôn Vạn Lăng có lối đánh bắt khá riêng.
Ông Lê Viết Đông, sinh năm 1951, thuộc lớp người sớm gắn với nghề câu kiều ở Vạn Lăng. Thuở nhỏ, ông theo người cậu đi cào tra, cào ruốc, câu cá trên sông, từ đó quen luồng nước, bãi cá và nhận ra vùng cửa sông có nhiều cá đuối.
Ông cùng người trong xóm mua lưỡi về, tự tết cước, nối thành dàn rồi bủa thử. Chuyến đầu, hàng trăm lưỡi ngâm qua đêm mà không được con nào; hôm sau đổi điểm, cá bắt đầu mắc câu. Qua những lần thử như thế, họ dần điều chỉnh vật liệu, dáng lưỡi và cách bố trí dây cho phù hợp với vùng cửa sông, ven biển. Câu kiều từ đó theo ông Đông và vợ qua hơn bốn mươi năm mưu sinh.
Vừa chỉ vào bộ câu, anh Lê Viết Tâm, con trai đầu của ông Đông, giải thích: Hàng trăm lưỡi được gắn dọc theo những đoạn dây nối tiếp, khi bủa nằm gần sát đáy để bắt chủ yếu cá đuối và một số loài sống tầng đáy.
Nhìn dàn câu nằm gọn trong rổ, ít ai hình dung phía sau là nhiều công đoạn tỉ mỉ. Từng lưỡi được người làm nghề tự gia công, từ cắt, đập, mài, dũa đến uốn thành hình rồi buộc vào dây; khi xếp cũng phải đúng cách để lúc thả xuống nước không bị quấn rối.
Bộ câu ken dày lưỡi sắc khiến người ngoài không khỏi e dè, nhưng ông Đông cười, bảo người thạo nghề thì biết cách xử lý. “Nhìn độ nặng, độ rung của dây có thể đoán được cá lớn hay nhỏ. Cá lớn mắc câu thì dùng cần đón để giữ xa tay. Gặp con vượt quá khả năng kiểm soát nên sẵn sàng buông để tránh nguy hiểm”, giọng ông rổn rảng.
Nhưng hiểm nguy của nghề không chỉ nằm ở những lưỡi câu sắc. Đánh bắt gần bờ và khu vực cửa biển, mỗi chuyến đi đều phải nhìn trời, trông con nước. Ông Đông vẫn nhớ những trận dông bất ngờ ở Cửa Đại, sóng chồm qua mạn ghe nhỏ. “Kỷ niệm hiểm nguy thì nhiều lắm. Có chuyến, hai vợ chồng chỉ mong sao đưa được ghe trở về an toàn đã là quý rồi”, ông chậm rãi nhớ lại.
Thời câu kiều còn thịnh, xóm có 24 chiếc ghe. Mỗi chuyến thường có hai người, một người bủa câu, người còn lại điều khiển ghe. Họ rời bến từ khoảng 2 giờ 30 đến 15 giờ, đến khuya hoặc rạng sáng hôm sau mới trở về.
Nhưng cập bờ chưa phải đã hết việc. Bộ câu phải được gỡ, kiểm tra, sửa lưỡi rồi xếp lại từng nẹp cho chuyến sau; có khi cần đến năm, sáu người cùng phụ mới xuể. Công việc nặng, tốn nhiều nhân lực, trong khi du lịch mở ra những sinh kế mới khiến nghề dần thưa người theo.
Nay cả xóm chỉ còn khoảng hai, ba chiếc còn đều đặn theo những chuyến câu kiều. Sự đổi thay ấy hiện rõ ngay trong gia đình ông Đông. Hai người con trai từng theo cha làm nghề nay chủ yếu bơi thúng du lịch. Chỉ những hôm sóng êm, con nước thuận, họ mới thu xếp đưa ghe đi câu để kiếm thêm.
Ba năm nay, ông Đông không còn theo ghe ra cửa biển. Chiếc ghe cũ vẫn được ông giữ lại, nhất quyết không bán. Với ông, đó không chỉ là phương tiện mưu sinh, mà còn gắn với quãng đời hai vợ chồng cùng nhau lênh đênh theo con nước. “Giờ không còn nhiều người trẻ theo nghề nữa”, giọng ông đượm buồn. Hơn bốn mươi năm gắn bó với nghề, điều ông tiếc nhất là những kinh nghiệm rồi có thể một ngày không còn người tiếp nối.
Con nước vẫn đi qua Cẩm Thanh mỗi ngày, mang theo nhịp sống mới và những dấu xưa còn sót lại. Rừng dừa vẫn xanh, ghe câu vẫn neo bên bến, chỉ người gắn với những nghề cũ ngày một thưa vắng. Dáng làng vì thế cũng lặng lẽ đổi thay theo từng con nước…
KHA MIÊN